Tin mới
cách cứu dữ liệu ổ cứng ở hà nội

Phở cuốn ngũ xã khơi dậy cả một con phố ẩm thực Hà Nội

Nếu ai đó nhắc đến phở cuốn Hà Nội thì nghĩ ngay đến Ngũ Xã, con phố nhỏ quanh co, nằm khuất sau Hồ Trúc Bạch. Ở đây, các cửa hàng, quán ăn mọc lên san sát, vào buổi trưa với chiều tối phố luôn đông vui, nhộn nhịp.

Nhìn không khí ăn uống sầm sập nơi này, chắc ít người biết rằng hơn chục năm trước, phố Ngũ Xã vô cùng thanh vắng, yên bình, và chỉ nhờ món phở cuốn của một quán vỉa hè có cái tên giản dị.

Không thể quên được phở Hưng Bền giản dị bé xíu nằm ở ngã tư Nguyễn Khắc Hiếu với Ngũ Xã. Buổi tối, quán khá đông khách nhưng thường chỉ người dân quanh đó và một số “ma xó” mới biết đến. Nhưng món lạ, lại chế biến khéo léo vừa miệng thực khách nên phở cuốn với phở chiên phồng của quán như một lẽ tất yếu ngày càng đông khách.

Đôi ba năm sau, quán mở rộng hơn, xung quanh cũng bắt đầu mọc lên những tiệm ăn theo cạnh tranh. Thời gian sau nữa thì phố Ngũ Xã thực sự trở thành con phố ẩm thực với món chủ đạo là phở cuốn - phở chiên phồng.

Quán phở gà ngon đắt mà đông khách ở phố Yên Ninh Hà nội

Cửa hàng phở gà đắt vẫn đông đó là quán phở gà Yên Ninh - đắt vẫn đông: Dù không có thâm niên vài chục năm để góp phần làm nên văn hóa ẩm thực Hà thành, phở gà Châm phố Yên Ninh vẫn lọt danh sách những tiệm phở có tiếng. Quán có mức giá đắt đỏ hiếm có - 60.000 đồng/bát phở gà thịt trắng thông thường và 100.000-150.000 đồng/bát phở đặc biệt hơn với thịt đùi, cánh, trứng, tim…

Mô hình quán nhỏ bình dân, giờ cao điểm khách vẫn phải chen chúc ngồi ngoài vỉa hè, không gian trong nhà cũng chẳng được đầu tư đẹp đẽ… tóm lại là chưa cân xứng với mức giá trên trời kia.

Về chất lượng, một tô phở với thịt gà, hành mùi, đầy đặn vừa tới, hương vị ngon nhưng chưa đến mức ăn một lần nhớ mãi. Nhiều khách lần đầu tới đây bị "chém" cả trăm nghìn đồng/ tô phở sẽ không tránh khỏi cảm giác ấm ức. Song phở Châm vẫn buôn may bán đắt, thậm chí khách còn xếp hàng, chầu chực.

Tất nhiên, khách ruột của quán phải là người có tiền, chịu chi. Phần đông họ chung quan điểm “đắt xắt ra miếng” hoặc “ăn ngon quen miệng”. Ngoài ra, một số người cho rằng đây là một trong những tiệm bình dân phố cổ có thái độ phục vụ tế nhị hiếm có.

Phở ngon gia truyền nổi tiếng phố bát đàn Hà Nội

Đây là quán phở ngon nổi tiếng có tuổi đời hơn nửa thế kỳ, tiệm phở gia truyền ở 49 Bát Đàn được coi là một trong những quán ăn không thể không đến khi ghé thăm thủ đô.

Thâm niên chỉ là một phần lý do, điều làm nên thương hiệu quán chính là hình ảnh ăn phở xếp hàng như thời bao cấp diễn ra mỗi ngày như một nét văn hóa ẩm thực độc đáo, thú vị.
Ở đây vào giờ cao điểm không có người phục vụ bưng bê tận nơi. Ai đến lượt thì được gọi đồ, trả tiền và tự nhận lấy "phần thưởng" là tô phở bò đậm chất truyền thống với nước dùng trong veo, thơm phức, miếng thịt bò tươi hồng, mềm mịn.

Thực tế ở Hà Nội, tìm được hương vị như vậy không quá hiếm, nhưng cái "lộc" xếp hàng vẫn duy trì bao nhiêu năm chắc chỉ phở Bát Đàn mới có.

Quán phở ngon ăn bưng gù lưng nổi tiếng Hà Nội

Quán phở này có địa chỉ số 1 Hàng Trống và chỉ mở từ khoảng 16h cho tới tầm 20h-20h30 tối là hết hàng. Quán phở nổi tiếng, nhiều người biết đến qua biệt hiệu lừng lẫy: "phở bưng".

Đến đây, bạn đừng mong một chiếc bàn hay cái ghế cao cao để đặt bát phở lên, đủng đỉnh dùng thìa với đũa nhẩn nha thưởng thức. Tô phở nóng bỏng tay thì khách vẫn phải bưng. Một tay lót giấy bưng bát, một tay cầm đũa, khỏi cần thìa, nước canh thì húp xì xụp. Đó chính xác là phong cách "phở bưng" đúng điệu Hà thành, vất vả nhưng vẫn ngon miệng lạ kỳ.

Nhiều người bảo ăn phở bưng khổ, nhưng bõ công. Nước phở trong veo song vẫn đậm đà, thịt bò chín thái mỏng, mềm, bỏ thêm nhiều hành hoa vào khiến bát phở càng dậy mùi thơm hấp dẫn.

Đó là chưa kể bên cạnh quán có ngay tiệm trà đá bán kèm quẩy cực ngon: vàng ươm, giòn tan. Kiểu quẩy mới ra lò này cặp kè với "phở bưng" quả là số 1. Những ưu điểm ấy hẳn làm người Hà Nội quên đi nỗi vất vả ăn bưng, gù lưng, mỏi gối.

Rượu Tà Vạt người cơ tu

Rượu Tà Vạt một loại rượu thơm ngon, độc đáo, đậm đà bản sắc văn hoá của đồng bào dân tộc CơTu, một loại rượu “truyền thống” không thể thiếu được trong gia đình, lễ hội… Đặc biệt là uống mừng năm mới, xuân đến Tết về.

Cây Tà Vạt ( tên gọi của đồng bào dân tộc CơTu) mà người Kinh còn gọi là cây Đoát. Cây Tà Vạt mọc tập trung thành từng cụm ở các triền núi thấp, gần khe, hố… nơi đất có độ ẩm cao. Nhìn chung thân cây giống như cây dừa ở đồng bằng, rễ chùm, thân to, khoẻ, có nhiều đốt dày, bẹ lớn, lá thưa.

Ngày trước người ta dùng lá Tà Vạt để lợp nhà….Nhưng cái đặc sắc và hấp dẫn nhất của cây Tà Vạt là làm “Buoh Tà Vạt”- rượu Tà Vạt. Đó là loại rượu lấy chất dịch thơm, ngọt… từ buồng trái của cây Tà Vạt, cho lên men, uống rất thơm ngon và bỗ dưỡng, rượu có vị ngọt, đắng nhẹ, khay khay…làm tê tê đầu lưỡi, là loại rượu “khai vị” rất tuyệt vời và không thể thiếu được trong gia đình, lễ hội, ngày Tết của đồng bào dân tộc Cơ Tu.  Nhưng muốn làm rưọu Tà Vạt thì không phải là dễ… Trước tiên, người ta vào rừng, chọn những cụm Tà Vạt sống ở gần khe, hố, chọn những cây to, mập mạp… để “lấy rượu”. Sau khi phát dọn quanh các gốc Ta Vạt đã chọn, tuỳ theo cây cao thấp, người ta làm một cái thang bằng cây và dây rừng từ gốc lên đến các buồng trái. “Tiến trình“ sản xuất rượu Tà Vạt cũng không kém phần gian nan và đầy tính nghệ thuật. Thường thường, mỗi cây Tà Vạt cho bốn, năm buồng, nhưng chỉ chọn lấy “nước” có một buồng có trái vừa, thích hợp. Lý tưởng nhất là trái cỡ trái cau là cho nhiều nước và phẩm chất tốt nhất. Cứ 3 ngày một lần, người ta leo lên nơi gần buồng, dùng dùi cui - đẽo bằng cây rừng - đập nhẹ chung quanh cuống của buồng trái mà mình đã chọn. Mỗi lần đập khoảng một vài giờ. Sau 4 hoặc 5 lần đập, tiến hành cắt ngang cuống buồng trái. Sau đó dùng cọng cây môn nước giã dập và bịt ngay đầu mới cắt, bên ngoài bọc bằng lá rừng và buộc lại. Động tác này gọi là “nhử nước”. Tuỳ theo cây, có thể nhử ba hoặc bốn lần mới ra nước, theo dõi khi thấy nơi mặt vết cắt, có nhỏ giọt nhanh, đều thì gạt bỏ lớp “chất nhử” và treo một cái can 10 lít để hứng. Có thể dùng ống nhựa, lồ ô, giang… để dẫn nước vào can. Chất nước này, lúc vừa chảy ra thì hơi trong, thơm và ngọt. rất hấp dẫn với các côn trùng như kiến, ong… nên người ta phải bịt, che lại.

Để dung dịch này lên men, dùng vỏ cây chuồn (một loại cây chắc, nặng, có ròng màu đen), dần cho mềm rồi cho vào can rượu theo liều lượng thích hợp. Tuỳ theo khẩu vị, phong tục, tập quán từng vùng, từng bản mà người ta đưa vỏ cây chuồn vào can nhiều hay ít. Muốn rượu có nồng độ cao hơn, vị đắng, thì cho vỏ chuồn nhiều và ngược lại. Khi rượu đã xúc tác tốt với men thì có màu đục, trắng. Trung bình - thời điểm rượu chảy nhiều nhất - mỗi ngày đêm cho ra từ 5 đến 10 lít rượu/1 cây. Cứ mỗi ngày, hai lần, sáng và chiều người ta đi lấy rươu .Thông thường, mỗi người quản lý một cụm từ 5 đến 10 cây Tà Vạt. “Rượu Tà Vạt” cho rượu rất lâu, có thể đến hai, ba tháng mới hết. Càng về sau, cây càng hết chảy dần, trung bình mỗi cây Tà Vạt lấy được trên dưới 300 lít rượu. Tà Vạt ra hoa, có trái hầu như quanh năm, nên rượu ta vạt có thể “ sản xuất” quanh năm.

Rượu Tà Vạt - một loại rượu thơm ngon, độc đáo, đậm đà bản sắc văn hoá của đồng bào dân tộc CơTu, một loại rượu “truyền thống” không thể thiếu được trong gia đình, lễ hội… Đặc biệt là uống mừng năm mới, xuân đến Tết về.

Rượu sâu chít Điện Biên

Đến Điện Biên, bất cứ ai ngoài ấn tượng ban đầu về thiên nhiên vô cùng hùng vĩ, khoáng đạt nơi đây đều bị một thứ "Đặc sản" khác làm mê mẩn và nhớ mãi không thôi, đó là Rượu.

Không nổi tiếng đến mức phổ biến trong toàn miền Bắc như rượu làng Vân, song nếu bạn là người ham thích uống rượu và khoái tỉ với những món nhậu đặc sản núi rừng thì không thể không thử qua một vài loại rượu "khủng" của người Tây Bắc như rượu Sâu chít, rượu Mông Pê, rượu ong, hay đơn giản chỉ là rượu ngâm táo mèo... Hãy thử tưởng tượng một buổi tối mùa đông miền sơn cước, gió lạnh cùng sương muối có thể cắt nát da trâu bò, thì bạn và tôi cùng những con người của bản ngồi xếp bằng trên nệm bông gạo trong một căn nhà sàn vách còn không kín gió. Hơi lạnh làm mọi người như muốn xích lại gần nhau, và chén rượu trên môi nâng lên chỉ càng thêm ấm áp!

Người Thái Điện Biên cả trai lẫn gái uống rượu đều có tửu lượng rất cao. Phụ nữ Thái có lẽ là những người vợ tốt nhất thế giới trong những cuộc vui chẳng biết giờ tàn. Họ không kêu ca, không tức giận. Trái lại, họ nhiệt tình uống cùng chồng và khi hết rượu, họ sẵn sàng kiếm thêm để tất cả cùng vui! Trong chiếu nhậu, thứ nhiều nhất là rượu. Đồ nhắm chỉ là hàng thứ yếu. Thường là vài món hấp hoặc nướng đơn giản được chấm với "Nậm Pịa". Nậm Pịa là phân non trong ruột bò, dê hoặc lợn, được chế biến theo một cách nào đó để thành một bát nước đen đen, xanh xanh, hôi hôi, đăng đắng. Chỉ một lần chấm Nậm Pịa duy nhất cũng có thể làm bạn cạch đến già, nhưng người Thái lại rất thích món nước chấm này. Họ bảo đó là bí quyết để không bao giờ đau bụng khi ăn đủ thứ hầm bà lằng khi uống rượu. Và có lẽ nhờ thế mà họ có thể uống rượu hết chai nọ đến chai kia mà vẫn.... chả thấy gì!

Uống rượu với người Điện Biên thì không cần cầu kỳ chai lọ, bát đĩa, đồ nhắm. Rượu thường đựng trong chai 65, nút lá chuối khô hoặc kỳ công hơn thì nút một ống nứa nhỏ đục lỗ để khi rót không bao giờ sợ ục. Trong bữa rượu đông người, thậm chí không cần đến chai lọ gì nữa. Rượu đổ thẳng ra bát to để giữa mâm, để ai thích thì cứ tự nhiên múc vào chén mà uống. Uống với người Thái, rất ít khi họ tìm lý do để ép rượu cả. Không phải đợi mời, mà thực sự họ thích được uống, thích cảm giác rượu chảy trong người!!! Đồ nhắm của họ càng đơn giản. Ít lòng luộc, vài con cá nướng hay vài xiên thịt nướng sả ớt cay nồng, thơm nức mũi cũng đủ cho cả chục người nhậu bét xè nhè đến tận gà gáy hôm sau. Người Thái có biệt tài nướng. Đồ nướng của họ khác xa mấy xiên thịt nướng rắc vừng theo kiểu công nghiệp tại hàng quán ven đường Hà Nội. Thịt hay cá nướng của người Thái lúc nào cũng đậm đặc gia vị, là hỗn trộn của vô số loài rau thơm, sả, ớt và mắc khén (thứ hạt tiêu của Tây Bắc), rồi xiên hoặc bọc lá chuối nướng than củi thật lâu, thật kỹ để khi bóc miếng cá, miếng thịt ra, chúng không còn tí nước, tí bở nào mà thật dai, thật khô, thật ngọt, thật cay.... Thơm và ngon vô cùng!!! Thịt, cá nướng mà chấm nước mắm đỏ ớt, cay xè thì thật tuyệt.

Nhưng nói gì thì nói, thứ được quan tâm nhiều nhất không phải là thịt hay cá, là lý do hay bạn nhậu mà chính là Rượu. Hôm nào mà chủ nhà kiếm được rượu ngon, là y như rằng hôm đó cả khách lẫn chủ hát hò, cười nói vang trời, để đến hôm sau thì chả ai nhìn đc ánh mặt trời nữa! Rượu phổ biến và mang tính điển hình nhất cho Điện Biên có lẽ là rượu sâu chít. Nó không phải là tên dân tộc gì, mà là rượu ngâm với con sâu chít (là con sâu nằm trong thân cây chít). Vào mùa chít (khoảng từ tháng 4 đến tháng 7 âm lịch), người Thái bán khắp nơi thân cây chít có sâu, còn gọi là Đông trùng hạ thảo. Chẻ thân cây chít ra, sẽ thấy con sâu chít dài khoảng 3 phân, to bằng đầu đũa, có ngấn như tất cả mọi con sâu không có lông khác!!! Theo quan niệm của người Thái, sâu chít là một loại thực phẩm quý hiếm, có tính bổ dưỡng cao.

Bây giờ, người Điện Biên ngâm rượu sâu chít tương đối đơn giản. Sâu sau khi làm sạch các tạp vật, cho vào bình rồi đổ rượu lên,... thế là xong! Sau một thời gian, rượu sâu chít lên màu vàng đục, không đẹp như nước rượu rắn nhưng trông cũng bắt mắt vô cùng. Rượu sâu chít mới nhìn thì thấy cũng bình thường như các thứ rượu gạo vốn có. Cũng chỉ là loại đựng trong chai nước suối có cái màu vàng đục, nhìn vào thấy xác mấy con sâu nằm dưới đáy bình... Cảm giác lạ nhất chỉ là mấy con sâu lạ so với các loại rượu khác. Được cho là “đông trùng hạ thảo của Việt Nam”, sâu chít càng trở thành tâm điểm chú ý khi có khảo cứu khoa học về tác dụng trong hỗ trợ điều trị ung thư, tráng dương được công bố...

Đối với người dân Tây Bắc, sâu chít là niềm tự hào về sản vật đặc biệt của địa phương mình. Sâu chít chính là một trong những đặc sản thiên nhiên “có một không hai” chỉ có ở một số vùng núi phía Bắc như: Lạng Sơn, Điện Biên, Sơn La.

Rượu sâu chít có tác dụng tốt với cả nam giới lẫn nữ... Thịt sâu chít vốn là món tăng cường sinh lực không chỉ dành cho cánh đàn ông mà với cách chế biến phù hợp, sâu chít còn giúp cải thiện da và sức khoẻ phụ nữ, cho những người thể trạng yếu.

Rượu vang đà Lạt

Đà Lạt không chỉ nổi tiếng là thành phố hoa và rau quả, mà còn cả rượu vang. Không lừng danh như rượu vang của Pháp, nhưng rượu vang Đà Lạt là niềm tự hào, là cái hồn tinh túy của xứ sở sương mù.

Nổi tiếng nhất là thương hiệu vang Đà Lạt. Có mặt từ năm 1999, vang Đà Lạt nhanh chóng trở thành thức uống và món quà được nhiều người ưa chuộng. Vang là một loại rượu nhẹ được chiết suất từ trái cây tươi, mà phổ biến là nho, mận..., nhưng vang Đà Lạt lại được chế biến từ trái dâu tằm. Cây dâu tằm làm rượu vang không giống với dâu mà người ta thường trồng để nuôi tằm.

Thay vì ít lá, loại dâu này cho nhiều trái, những trái dâu đen thẫm, cuộn xoắn như từng chùm nho nhỏ xíu. Dâu làm rượu vang chỉ thích hợp trồng ở vùng khí hậu lạnh.

Sản phẩm rượu được lên men từ các loại trái cây đặc trưng, qua quá trình chế biến bằng công thức truyền thống và công nghệ hiện đại, rượu vang ra đời với hương vị thơm ngon, đậm đà, mang tính năng bồi bổ sức khỏe, thường xuyên xuất hiện trên các bàn tiệc, bữa ăn gia đình của nhiều người trên khắp cả nước.

Người Đà Lạt rất thích uống rượu vang, có lẽ là để giữ ấm cho cơ thể khi sống trong vùng đất sương lạnh gần như quanh năm. Dần dần, rượu vang được xem như một trong những đặc sản truyền thống không thể thiếu trong các gia đình Đà Lạt mỗi dịp Tết đến xuân sang.

Theo một số người dân Đà Lạt, nghề làm rượu vang không còn là nghề độc quyền của một ai, thay vào đó rất nhiều người Đà Lạt đều biết và làm được rượu vang. Chỉ có khác là kỹ thuật chưng cất, người có kinh nghiệm, tay nghề giỏi làm ra rượu thơm ngon, giữ được lâu mà không cần bảo quản; còn người "non tay" thì làm ra rượu kém khẩu vị, ngọt quá hay chát quá, thậm chí còn bị tourner (bị đổi màu, màu có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra rượu ngon)...

Rượu mỏ quạ Phú Quốc

Cây mỏ quạ là cây khá đặc biệt: có quả giả màu xanh chứa đầy nhựa màu trắng như sữa, bên trong có chứa nhiều chất mùn và kiến thường làm tổ trong đó, rễ mỏ quạ phát triển trong những trái giả này để hút dưỡng chất, ngoài ra cây mỏ quạ còn có rễ ôm thân cây chủ. Lá mỏ quạ khá nhỏ, màu xanh, hoa 5 cánh màu hồng tím đường kính 3-4 mm. Cần phân biệt cây mỏ quạ này với cây mỏ quạ xuyên phá thạch.

Tên khoa học của cây mỏ quạ là Marclura Cochinchinenis, thuộc họ dâu tằm, là dây leo ký sinh trên thân gỗ cao trong rừng già. Người Trung Quốc gọi là Thiên Chu Sơn. Mỗi vùng trên đất nước ta gọi tên với 1 cái tên khác nhau: Thồ Lồ, Hoàng Lồ, Xương Song, Mõ Diều. Người Lào gọi là Cóc Mạc Thang.

Nhưng khi mỏ quạ được ngâm vào trong rượu nếp 40 – 45 độ, sau 01 năm, thì cho ra một thứ rượu tuyệt vời, có màu tự nhiên thật bắt mắt, nhất là có tác dụng thật đặc biệt: giải cơn say, tỉnh táo bình thường, không gây đau đầu.

Ở Việt Nam cây mỏ quạ có mặt ở nhiều tỉnh miền núi và đồng bằng, nhưng ít ở đâu giống cây này lại phát triển tốt, trái lớn như Phú Quốc do điều kiện khí hậu thổ nhưỡng thích hợp. Mỏ quạ có tác dụng dược lý rất đa dạng: kim khuẩn, tăng cường thực bào, chống dị ứng ở mức độ nhất định, làm lành nhanh vết thương phần mềm, trị đau nhức, phong thấp, một số chứng ho…

Cách sản xuất rượu:
Rượu mỏ quạ thường là ngâm trực tiếp cây mỏ quạ với rượu đế khoảng 30-40%vol. Có một số người còn ngâm rượu mỏ quạ với một số vị thuốc Nam hoặc thuốc Bắc có vị ngọt và có cùng công dụng như chữa đau lưng, nhức mỏi và một số vị thuốc ngọt để giảm vị đắng của Mỏ quạ.

Cây mỏ quạ có thể dùng lá, thân…ngâm tươi hoặc khô đều tốt, nhưng ngâm tươi thì dùng rượu cao độ từ 40 độ-45 độ để đảm bảo chất lượng nồng độ vì trong trái mỏ quạ tươi có rất nhiều nước màu trắng như sữa có vị đắng. Tốt nhất nên rửa sạch, phơi khoảng 2 nắng đem ngâm là tốt, ngâm còn nguyên tổ kiến trong đó là tốt nhất. Rượu ngâm khoảng 15 ngày thì dùng được, khi đó rượu có màu đỏ đậm rất đẹp, uống có vị đắng, thơm đặc trưng của trái mỏ quạ.

Rượu mơ Yên Tử

Danh thắng Yên Tử không chỉ được biết đến với phong cảnh đẹp, linh thiêng mà còn nổi tiếng với loại rượu được chế biến từ những quả mơ trồng nơi đây.

Vào tháng 3 và tháng 4, khi mơ chín rộ cây, người ta lựa những quả mơ lông mượt, chín vàng đều, mùi thơm lựng, rửa sạch, đem chế biến bằng phương pháp lên men. Tùy theo mỗi vùng mà công thức pha chế rượu mơ thành phẩm khác nhau.

Rượu mơ Yên Tử ngon có vị ngọt dịu và thơm, rất dễ uống, phù hợp với khẩu vị của nhiều lứa tuổi. Ngoài ra, rượu mơ còn có nhiều tác dụng rất tốt đối với sức khỏe như: kích thích tiêu hóa giúp ăn ngon miệng, điều trị bệnh đường ruột, giảm lo âu và an thần, chữa mất ngủ, và giúp tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.

Còn gì tuyệt vời hơn khi vừa được thưởng ngoạn cảnh đẹp hùng vĩ, nên thơ của chốn non thiêng Yên Tử, lại vừa được dịp thưởng thức chén rượu vàng sóng sánh với hương vị nồng ấm, men say ngây ngất.

Địa chỉ tham khảo: Nhà máy bia Thăng Long: Yên Thanh, Tp. Uông Bí, Quảng Ninh.

Rượu chua đặc sản Quảng Ninh

Đây là một loại thức uống đặc sản của người Dao ở xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh. Nếu rượu thường uống vào say ba tiếng đồng hồ thì rượu chua uống say ba ngày.

Rượu có mầu vàng trong vắt, vị ngọt đằm sâu, ngửi thấy mùi thơm ngọt của gạo nguyên, uống thật êm và uống xong vẫn còn dính môi. Thứ nước này được dùng trong tất cả các dịp hội hè, đình đám, ngày lễ tết, ngày kỷ niệm và dùng cả trong những sự kiện trọng đại của gia đình, dùng hợp với đủ thứ đồ ăn kèm từ đồ cỗ mặn xôi thịt đến bánh kẹo hoặc uống chay chẳng dùng với thứ gì cũng ngon. Rượu chua ở Bằng Cả không làm để bán. Mà chỉ làm để nhà dùng và hộ nhau khi có việc.

Làm rượu chua không khó nhưng không phải ai cũng làm được. Ngày xưa các cụ làm rượu chua rất cầu kỳ cẩn thận và nhiều kiêng kỵ. Thứ gạo được dùng để làm rượu phải là gạo nếp nương, nhà phải tự giã lấy bằng cối đá, xảy vỏ xảy mày và cho vào nấu thành cơm để ủ. Đặc biệt men ủ là thành phần tối quan trọng quyết định chất lượng mẻ rượu, men của các cụ ngày xưa là men lá hay còn gọi là men truyền. Ngày nay rượu chua không làm được bằng gạo nếp nương men lá nữa mà đơn giản họ làm bằng gạo tẻ và men thường (thứ men vẫn có bán ở chợ). Khi thành rượu, độ ngọt và mùi thơm đều giảm, vì thế nhiều nhà muốn lấy lại hương vị cũ phải làm hai mẻ rượu nối tiếp nhau để lấy nước rượu cay của mẻ trước đổ vào ủ mẻ sau, sau hai ngày mới đổ thêm nước sôi nguội, làm như vậy rượu sẽ ngọt và dậy mùi gạo hơn.

Một số nhà muốn có rượu thật ngon thì họ làm bằng gạo nếp hoặc muốn có mầu cho rượu đẹp thì làm bằng rượu nếp cẩm, nhưng đấy chỉ vào những dịp trọng đại của gia đình.

Rượu mẫu sơn lạng sơn

Rượu Mẫu Sơn thơm ngon, trong vắt như nước suối, uống rất dịu, vị đậm đà, lại không quá cay nồng mà cũng không quá nhạt, mang hương vị đặc trưng, thơm dịu của lá và rễ cây thuốc miền núi Xứ Lạng, mà hễ ai đã từng một lần uống thì mãi không thể quên được. 


Từ một loại men bí truyền
Rượu Mẫu Sơn do chính tay những người dân tộc Dao sống trên đỉnh Mẫu Sơn(Lộc Bình-Lạng Sơn) chưng cất ở độ cao 800-1000m so với mặt biển bằng phương thức truyền thống, được lưu truyền tứ đời này qua đời khác. Để chưng cất được loại rượu có một không hai này, ngoài nguyên liệu chính là gạo và nước suối (lấy từ những con suối chảy trong núi có độ cao hơn 1000m so với mực nước biển), thì chất gây men không thể thiếu là lá rừng. Men lá được pha chế từ hơn 30 loại thảo dược quý hiếm như: Cây 30 rễ, dây nước, trầu rừng, dây ngọt... có tác dụng chữa lành vết thương, phong thấp, thấp khớp, đau lưng… Sau khi các loại thảo dược đã được rửa sạch, băm nhỏ và phơi khô thì mang trộn đều chúng lại với nhau, giã nhỏ và đem đun. Đợt nước đầu dùng để nhào bột, nước hai để ngâm gạo (gạo tẻ, không ẩm mốc).

Già làng Triệu Sáng Hiển năm nay 70 tuổi, là một trong những người nắm giữ bí kíp pha chế loại men lá quý này cho biết: “Men phải ủ ít nhất trong 15 ngày. Men càng trắng, càng phồng thì càng tốt. Đặc biệt phương thức làm men chỉ truyền cho con trai và con dâu chứ không truyền cho con gái". Nhờ loại men lá này mà rượu Mẫu Sơn trở nên nổi tiếng và hấp dẫn du khách thập phương.

Cách chưng cất truyền thống độc đáo

Theo anh Triệu Văn Thắng – một người nấu rượu lâu năm ở đây cho biết: "Để có được những chai rượu trong vắt và mát rượi, đòi hỏi sự tỷ mỉ và kiên nhẫn qua từng công đoạn: nấu cơm, trộn men, ủ lên men và cho vào hũ (chum, vại) bịt kín trong khoảng 15-25 ngày mới đem chưng cất, ủ được càng lâu càng tốt".

Công đoạn chưng cất rượu giống như quá trình đồ xôi. Tuy nhiên, cái chõ nấu rượu phải có một lỗ thủng gần miệng để dẫn rượu ra. Trên miệng chõ đặt một cái chảo, đổ đầy nước và cứ nước trong chảo nóng là phải thay để ngưng tụ rượu, bảo đảm độ rượu. Sau 4 giờ liên tục thay nước, đun lửa đều, công đoạn chưng cất mới hoàn thành. Chưng cất cầu kỳ và mất nhiều thời gian như vậy nhưng rượu Mẫu Sơn không đắt, chỉ 13.000 đồng/lít.

Cũng theo anh Thắng thì nấu rượu lãi chẳng là bao nhưng người dân ở đây chưa bao giờ có ý định bỏ nghề. Ở Mẫu Sơn hiện có gần 80 hộ gia đình nấu rượu và đã mở rộng tới nhiều hộ gia đình khác. Sở dĩ người dân vẫn đeo đuổi nghề nấu rượu vì nó như một thứ di sản và nay đã trở thành sản phẩm du lịch không thể thiếu, phần nào làm nên niềm tự hào của người dân Mẫu Sơn.

Khẳng định thương hiệu: "Đệ nhất danh tửu"xứ Lạng
Thương hiệu rượu Mẫu Sơn đã đoạt giải thưởng “Sao vàng đất Việt” từ năm 2002. Chỉ có nguồn nước Mẫu Sơn, cách chưng cất thủ công hàng nghìn năm và loại men của người dân bản địa nơi đây mới làm nên hương vị thơm nồng, êm dịu của rượu Mẫu Sơn. Bà Triệu Thị Nảy – một người dân bản địa cho biết: "Cũng đã có nhiều người thử đưa nước và men từ Mẫu Sơn đi nấu tại nơi khác nhưng rượu nấu không thành. Chúng tôi nấu rượu ở đây thì không phải lo đầu ra, vì đã có Công ty Du lịch xuất nhập khẩu Lạng Sơn và nhiều của hàng, đại lý thu mua hết. Ngoài ra còn có khách từ nhiều tỉnh thành khác nhau lên thăm quan khu du lịch Mẫu Sơn mua rất nhiều, mỗi tháng tôi bán được gần 3000 lít ượu".

Với rượu Mẫu Sơn chính gốc, lỡ khi quá chén không hề gây đau đầu... Người nấu rượu lâu năm không cần nếm cũng có thể thẩm định được chất lượng của rượu bằng cách lắng nghe tiếng rơi của rượu trong vại sành lúc chưng cất và hương rượu thoáng qua.Theo những người sành rượu, rượu Mẫu Sơn có những nét riêng ít loại rượu nào có được. Đưa rượu lên rót nghe thánh thót trong veo, hơi rượu thơm nồng, nước rượu trong như pha lê. Rượu rót ra chén sủi bọt sủi tăm, uống vào không có cảm giác gắt, hay nóng cháy cổ khiến người ta giật mình, e ngại. Tiếng lành đồn xa, rượu Mẫu Sơn không còn bó hẹp trong không gian thôn làng nữa mà vươn đến các địa phương khác. Nhiều người khi ghé qua đất Lạng Sơn đều muốn nếm thử một lần cho biết hoặc mua một ít về làm quà biếu người thân.

Tuy nhiên, để thương hiệu rượu Mẫu Sơn đứng vững trên thị trường thì việc cần phải tính đến là gìn giữ những thảo dược quý để làm men. Việc khai thác dược liệu phải hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của cây, đồng thời có kế hoạch tiến hành ươm trồng những giống cây đang trở nên khan hiếm. Vì như lời của ông Triệu Sáng Lùng – một người làm men lâu năm cho biết thì các loài cây dùng làm men hiện rất khó tìm và ít đi nhiều do đã bị khai thác quá nhiều. Lo lắng của ông Triệu Sáng Lùng cũng là nỗi lo chung những người làm rượu ở đây.

Rượu Mẫu Sơn không kén gạo, mà kén men, kén nước. Chỉ có nước và khí hậu ở trên đỉnh Mẫu Sơn này mới có thể tạo nên loại rượu có một không hai này. Trong rượu Mẫu Sơn, không chỉ có tấm lòng, công sức người dân nơi đây, mà còn có độ cao hùng vĩ núi non Mẫu Sơn, có sự tinh khiết của suối, sự ngạt ngào của hương rừng Mẫu Sơn.

Rượu đế Bến Gỗ

Vào nửa sau thế kỷ XVII, các thế hệ di dân tự do người Việt với phương tiện chủ yếu là thuyền, ghe, xuồng... theo thủy triều ngược dòng Đồng Nai vào định cư ở các giồng đất hai bên bờ. Do đây là những nơi sẵn nước ngọt dùng cho sinh hoạt, trồng tỉa nên người Việt đến khai khẩn sớm nhất (theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức).

Theo đó, Bến Gỗ (nay thuộc xã An Hòa - huyện Long Thành) là một trong những vùng định cư sớm nhất của số cư dân này ở xứ Đồng Nai. Và không biết tự lúc nào rượu đế Bến Gỗ đã vang tiếng khắp miền Nam. Trong Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển thì cho rằng: "... Thức uống có men phải nói đến rượu đế. Cùng với rượu Gò Đen (Long An), Hòa Long (Bà Rịa), rượu gạo Bến Gỗ (Long Thành) cũng nổi tiếng xứ Đồng Nai. Rượu đế chưng cất từ gạo nếp kết tinh chất bổ dưỡng từ bột nên dùng đúng liều lượng rất dễ tiêu hóa. Rượu đế còn dùng để ngâm thuốc gồm nhiều loại động, thực vật để tăng lực hoặc chữa bệnh". Rõ ràng là chi tiết "cùng với" không được đúng lắm vì Bến Gỗ hình thành địa bàn dân cư sớm hơn Long An, Long Đất thì rượu đế Bến Gỗ không thể xuất hiện cùng thời với rượu đế Gò Đen, rượu đế Hòa Long mà là phải có trước. Nhưng trước là lúc nào thì chưa có tài liệu nào nói rõ.

Ông Hai In (Nguyễn Văn In) năm nay đã 71 tuổi, nhà ở ấp 1, xã An Hòa thuộc gia đình có mấy đời nấu rượu ở Bến Gỗ cho rằng: "Hồi tôi biết được thì bà ngoại tui đã là người kháp rượu chuyên nghiệp trong làng. Năm 1952, bọn lính Tây về lấy đình thần An Hòa để đóng bót thì chúng ra lệnh cho dân Bến Gỗ không được nấu rượu nữa: bọn tào cáo (lính) đi lùng sục khắp nơi bắt gặp ai nấu rượu chúng đập hết lu hũ. Bà ngoại tui mấy đời sống nhờ nghề kháp rượu nên đem lu hũ giấu dưới giếng. Vậy mà bọn tào cáo cũng biết được bắt bà đem ra bót Bến Gỗ nhốt và bà đã chết luôn trong bót".

Ông Chín Khai (Nguyễn Văn Khai) năm nay 61 tuổi là phó ban quý tế đình thần xã An Hòa tỏ ra khá am tường về rượu đế Bến Gỗ. Ông cho biết: "Rượu đế Bến Gỗ nổi tiếng từ lâu lắm rồi, nhưng nó cũng thăng trầm dữ lắm. Khi giặc Pháp chiếm làng Bến Gỗ, chúng cấm dân không được nấu rượu để rượu công-xi của chúng độc quyền tiêu thụ. Nhưng dân ghiền rượu đế đều chê rượu công-xi nên nhiều nhà làm rượu bèn lén chuyển nếp, men và đồ nghề ra rừng để nấu rượu. Thời đó, người ta lén lút uống rượu đế Bến Gỗ với nhau và gọi đó là... "rượu rừng". Mãi đến sau ngày đình chiến, bọn Tây rút đi, việc nấu rượu đế được công khai trở lại. Hàng loạt lò nấu rượu đế Bến Gỗ được phục hồi. Nhưng nổi tiếng cho đến tận những năm 1970 là lò rượu của bà Bà Lai và Dì Năm (bà Đoàn Thị Năm, nay đã 94 tuổi). Hai lò rượu này chuyên cung cấp cho "mối ruột" là quán bún thịt nướng của bà Tư Lưỡng cũng nổi tiếng ở Bến Gỗ mà nhiều người ở tỉnh lỵ Biên Hòa cũng kéo sang ăn và thưởng thức rượu đế. Sau ngày giải phóng, tình hình lương thực khó khăn, chính quyền cách mạng cũng cấm nấu rượu. Từ thời mở cửa đến giờ, rượu đế Bến Gỗ lại bung ra dữ quá! Ông Hai In nói giọng hoài cổ:  "Rượu đế Bến Gỗ hồi trước đây nấu toàn bằng nếp và pha men ngọt nên rượu ngon lắm. Ông bà mình còn canh thời tiết mới kháp rượu, nên rượu ra ngon không chê vào đâu được. Đã vậy, người uống rượu đế Bến Gỗ hồi đó thường dùng cáo nhạo để đựng rượu và khi rót ra ly phải có bọt mới chịu. Và khi uống rượu đế người ta cũng uống là để thưởng thức hương vị, ngồi nhâm nhi bàn chuyện xóm làng. Đến đám tiệc cũng uống rượu tình rượu nghĩa. Từ sau ngày đình chiến, có một số dân di cư đến Bến Gỗ sống nghề sông nước và hình thành ra ấp Xóm Câu thì thanh niên ở đây uống rượu bằng tô. Dân Bến Gỗ cũng bắt chước theo uống tô say té lên té xuống. Mà rượu đế bây giờ đều kháp bằng gạo dẻo với men tự tạo, tuy cũng nấu một mẻ 10 lít gạo ra được 4 lít rượu, nhưng hổng ngon bằng hồi trước".

Ông Năm Mạnh (Võ Văn Mạnh), 71 tuổi là chủ một lò rượu đế có uy tín nhất ở An Hòa hiện nay. Được truyền nghề kháp rượu từ ông bà, cha mẹ, ông Năm Mạnh mở lò đến nay đã 56 năm, cho rằng: "Rượu đế Bến Gỗ ngon nhờ ngoài kỹ thuật kháp còn có yếu tố nước. Vì cũng với nếp, men như vậy nhưng rượu ở hai xã liền bên là Long Hưng và Phước Tân thì  lại không ngon!". Ông Nguyễn Văn Tám, Trưởng ban VHTT xã An Hòa xác nhận điều này và cho là vì vậy mà bây giờ rượu đế Bến Gỗ được bán rộng rãi từ Phước Tân qua Tân Vạn, Hóa An... và cũng có thời kỳ người dân xứ rượu này đặt ra câu ca dao để trêu chọc: "Làm cán bộ xã An Hòa/ Không uống rượu thì chả ra cái gì!". Thế nhưng việc kháp rượu tràn lan (chưa có thống kê cụ thể, người ta cho rằng hiện An Hòa có không dưới 100 lò kháp rượu) với chất lượng thấp và pha chế tùm lum làm ảnh hưởng đến uy tín rượu đế Bến Gỗ. Là thành viên HĐND xã hai nhiệm kỳ, ông Tám cho biết Đảng ủy, UB xã lâu nay đã nhiều lần bàn bạc mà chưa gút lại được làm thế nào để giữ vững danh tiếng cho rượu đế Bến Gỗ và tạo thành một thương hiệu rượu đế có uy tín. Vì hiện nay lò rượu ở An Hòa tự phát tùm lum như vậy, nhưng lò có uy tín thực sự chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Đó là các lò Năm Mạnh, Ba Khâu, Bảy Thìn, Hai In, lò ông Hồ, ông Hồng...

Rượu Mông Kê tây bắc

Rượu Mông Kê hay còn được người dân gọi là rượu Sùng Phài, là sản phẩm đặc trưng, gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc Mông.

Rượu có mùi thơm của ngô và men lá, có vị ngọt cay, nồng độ cao, uống bốc nhưng êm dịu, nhanh say nhưng không gây đau đầu, nếu sử dụng với một lượng thích hợp sẽ cho cảm giác khoan khoái, dễ chịu, ăn cơm ngon miệng.

Men nấu rượu được làm từ các loại thảo dược của núi rừng, có vị phòng chống lạnh, trừ cảm, có vị làm cho lưu thông khí huyết, giảm đau nhức khớp. Ngô tươi dùng để nấu rượu sẽ cho rượu chút màu xanh trong, nếu dùng ngô già va hạt khô (lên men cả hạt và phôi) thì rượu có chút màu vàng trong.

Tại Lai Châu, rượu Mông Kê được sản xuất tại Hợp tác xã Sùng Phài, xã Nậm Loỏng, thị xã Lai Châu. Tại đây với những nương ngô bạt ngàn, dân cư chủ yếu là người dân tộc Mông. Rượu ở đây được đồng bào dân tộc nấu theo phương pháp cổ truyền, không sử dụng phương pháp nấu ngô theo cách thông thường mà sử dụng phương pháp hấp cách thủy, thời gian hấp khoảng 5 - 6 giờ trên bếp củi. Khi hạt ngô nở, người ta tải ra trên lá hoặc nong, nia, chờ nguội mới rắc men. Nước nấu rượu được lấy từ các khe trên núi đá; dụng cụ chưng cất bằng tre, nứa, gỗ; rượu được ủ dưới đất trong quá trình lên men. Nhờ phương thức truyền thống với nguồn nguyên liệu đặc biệt tự có, rượu ngô của đồng bào dân tộc Mông có chất lượng cao, hương vị thơm ngon mà không ở đâu có thể sản xuất ra được.

Là một đồ uống truyền thống của đồng bào dân tộc Mông, rượu Mông Kê không bao giờ thiếu trong các ngày lễ, đám hiếu, hỷ của người dân. Trước đây rượu Mông Kê chỉ được tiêu dùng trong phạm vi tỉnh Lai Châu, nhưng nhờ có chất lượng đặc biệt nên dần dần được nhiều người biết đến. Thị trường hiện nay của rượu Mông Kê ngoài việc tiêu thụ trên địa bàn, đến nay còn có thương hiệu và mở rộng khắp nơi trên toàn quốc.

Hương vị rượu ngô Bắc Hà

Nếu ai đến thăm Bắc Hà, Lào Cai, xin dành thời gian ghé thăm vùng đồng bào dân tộc Mông ở Bản Phố. Tại đây, bạn không chỉ được chiêm ngưỡng rừng mận tam hoa, đào đang chin đỏ, được thả mình nghỉ dưỡng, tận hưởng khí hậu mát mẻ, trong lành mà còn được thưởng thức hương vị ẩm thực vùng cao, tìm hiểu đời sống văn hóa dân tộc Mông qua việc thăm  làng nghề nấu rượu ngô đặc sản Bản Phố.

Ngày nay, nhiều người Mông ra ngoài, cũng có nhiều người vì yêu mến hương vị rượu truyền thống của bản Phố mà mang thứ rượu quê này ra ngoài "thi thố" với rượu Tây. Ấy thế, bấy lâu nay, nhiều người yêu thích rượu vẫn luôn chọn rượu ngô bản Phố cho những bữa ăn thân tình, chia sẽ chút hương vị Tây Bắc.
Tuy nhiên, cũng  phải nói, không gian ở những phiên chợ Bắc Hà, nơi kẻ mua người bán đông vui tấp nập, tiếng người dân tộc, tiếng kinh, tiếng rao bán của các cô các chị người Mông hay tiếng gia súc ngoài bãi dường như khiến cho rượu ngô ngon hơn.

Theo những người lành nghề nhất trong bản làng người Mông cho biết  thì đây được coi là giai đoạn quan trọng nhất, men rượu cũng do mỗi gia đình tự làm lấy từ hạt cây hồng my. Cây hồng my hạt giống hạt kê, được trồng xen ngay ở nương ngô hoặc dưới tán mận vào tháng 3 và thu hoạch vào tháng 7 dương lịch . Sau khi thu hoạch hạt hồng my được phơi khô sau đó tách hạt bỏ vỏ nghiền thành bột đem trộn với rượu và nước rồi nặn thành chiếc men hoàn chỉnh. Trộn ngô với men theo một tỷ lệ đã định rồi đem ủ, ngô được ủ ngay trên nền đất trong nhà thì mới tốt.
Người nấu rượu sẽ nhận biết nhiệt độ ủ men bằng cách cho tay vào đống ngô. Họ luôn giữ cho đống ngô ủ không quá nóng, cũng không quá lạnh. Mùa lạnh thì che chắn và đậy lên trên đống ngô bằng bạt. Sau khi đống ngô ủ ấm lên, những hạt ngô xuất hiện phấn trắng thì đem ngô ủ cho vào trong thùng buộc chặt đủ thời gian chừng 5 đến 6 ngày thì cho ngô vào chõ để nấu rượu, chõ phải làm bằng gỗ thì mới tốt, ngô nấu rượu được tính bằng sinh, thông thường mỗi nồi rượu người ta nấu khoảng 2 sinh ngô bằng 60 Kg, chưng cất được khoảng từ 20 đến 24 lít rượu nồng độ khoảng chừng trên 40 độ.
Rượu ngô Bản Phố thơm mồng với men hoa hồng my thơm nức mũi. Vị rượu cay nhưng uống vào không thấy có cảm giác cháy ruột cháy gan mà chỉ có chút nồng ấm, như xua tan cái lành lạnh của vùng cao Tây Bắc. Mùi rượu ngô nồng nồng, khác hẳn với rượu nếp nương, có cái ngon khác hẳn với hương rượu Sán Lùng của người Dao Đỏ hay vị rượu gạo của người miền xuôi. Chắc chắn, khi đã thưởng thức nó một lần, những du khách ham mê rượu ngon sẽ trở về nơi đây một lần nữa
VnCharm

Thưởng thức rượu dừa bến tre

Nhắc đến miền quê Bến Tre là nhắc đến những đặc sản được chế biến từ dừa như: kẹo dừa, rượu dừa, thạch dừa, củ hũ ...các món ăn từ hương dừa thơm ngon này đã làm say bao lòng thực khách khi ghé thăm. Nổi tiếng nhất nơi đây là những bình rượu dừa mang vị cay nồng, ngọt dịu mà không miền quê nào có được loại rượu thơm ngon như thế.

Nếu nói về cái “thú say” thì ẩm thực Việt có bao điều thú vị. Từ những loại rượu của vùng núi ngàn lừng lẫy như rượu cần, rượu táo mèo, rượu ngô Nà Hang đến các loại rượu bình dân của xứ sở đồng bằng như nếp than, rượu gạo, tất cả đều khiến lắm kẻ ngất ngây. Ấy thế mà có một loại rượu chẳng thể làm người ta say, nếu có chăng thì chất men nồng của nó dễ làm người ta nhớ: nhớ về một vùng đất của ba dải cù lao, nhớ về những con người chất phát và bao đặc sản khó quên.

Cây dừa gắn bó máu thịt với người dân Đồng Khởi từ bao đời nhưng hình như rượu dừa bến tre mới được biết đến như một đặc sản của vùng chỉ vài năm trở lại đây. Câu chuyện cũng bắt đầu với những con người tâm huyết với cây dừa quê hương. Họ là những ông chủ của thương hiệu rượu dừa Bến Tre. Bỏ công mày mò với trái dừa xứ sở, bao sáng kiến nảy nở để rồi cuối cùng chắt lọc được thức ngon hiếm có. Đặc sản xứ dừa luôn có sức hút lạ: bình dị, ngọt ngào, chất phát và hiền hòa như người dân quanh năm gắn bó với mảnh đất này. Thế là nhắc đến đặc sản Bến Tre, nhiều người có thể hồn hậu thêm vào hai tiếng rượu dừa như một minh chứng cho sự ưu đãi của thiên nhiên đối với vùng đất này. Rượu dừa Bến Tre đã trở thành sản phẩm thương mại. Những “bình rượu” được “đúc” hoàn toàn từ trái dừa tươi được cho vào những túi lưới nhỏ, đi khắp mọi miền để quảng bá cho sản phẩm làm nên một nét đặc trưng xứ sở. Rượu dừa góp vào danh sách các loại rượu ba miền như một hương lạ. Không phiêu du như rượu cần, không cay nồng như Bàu Đá, không chan chát mặn ngọt như rượu táo mèo, rượu dừa có hương của đất, của người, của cây dừa quê đến độ đậm đà. Uống rượu dừa không phải để say men mà để say lòng, một cái gì đó phảng phất nhưng đầy dư vị.

Rượu dừa chẳng thể làm ai say, có chăng sẽ khiến ai đó “ứ ừ”, tỉnh táo nhận ra thứ này làm họ say theo cách khác, cái cách quyến rũ của hương quê chứ không phải là chất men ủ thuần túy. Những ai đã từng thưởng thức rượu dừa, mới lần đầu sẽ có sự ngần ngại ngay đầu lưỡi vì rượu nhưng không hẳn là rượu, cay thâm thúy đó nhưng cũng ngọt ngào ngay đó. Uống mãi đến hết bình, cảm giác say chỉ mới ngà ngà, giống như cái cảm giác ngất ngây trước một sự mê hoặc khó cưỡng. Rượu dừa có hương men, hương nếp và tất nhiên là hương dừa. Sự hòa quyện của những nguyên liệu nồng nàn cho ra một loại rượu đặc sản. Uống rượu dừa hẳn cũng như một cách giải khát, chỉ có điều thức uống này lạ lùng quá đỗi. Nghe qua về quy trình làm rượu, cũng thấy hẳn sự công phu. Trái dừa được chọn phải là dừa già, cơm dày, béo mỡ màng và thơm ngai ngái. Hình dáng bên ngoài của quả cũng quan trọng.

Thông thường, những quả có đường kính quả từ 16 đến 18 cm, cân nặng từ 1,2 đến 1,4 kg (sau khi đã lột sạch vỏ) mới được chọn. Lớp sùi bên ngoài được mài nhẵn cho trơn láng để tạo độ bóng đẹp, ấn tượng như một bình rượu bầu. Nếp cái chọn loại căng tròn, hạt mẩy, trộn với men cổ truyền chuyên dùng cho rượu nếp. Sau đó, người ta khoét một lỗ nhỏ trên đầu quả dừa, tiêm hỗn hợp nếp cái, men vào theo một tỉ lệ nhất định, hàn kín và ủ từ 15 đến 20 ngày là có thể dùng được. Rượu có màu trắng ngà, vân vẩn đục với những chấm xác dừa lơ lửng. Rượu có vị ngọt mát với hương thơm đặc trưng của trái dừa bản xứ, vừa nồng nàn, vừa thanh tao, dịu nhẹ. Trong những ngày se se, dùng rượu dừa hâm nóng sẽ tốt và ấm hơn, ngược lại, những ngày oi nồng, một chút mát lạnh sẽ làm rượu càng thêm ngon. Nói là rượu nhưng đây không hẳn dành cho nam giới bởi người phụ nữ khi đã mê thì cũng dễ say với rượu dừa một đặc sản Bến Tre. Rượu làm cho nét chấm hồng trên khuôn mặt của người thiếu nữ thêm hao hao, làm nét duyên ngầm càng thêm quyến rũ. Một phương pháp sản xuất rượu đại trà hơn nữa là thông qua quá trình chưng cất từ nước dừa. Nước dừa được lọc, ủ men, sau đó được trưng lên như cách làm rượu nếp hay rượu gạo. Tuy nhiên, hương dừa sẽ giảm và rượu cũng không có được vị hòa quyện khi được ủ ngay trong lòng trái. Ngày nay, về Bến Tre, du khách dễ dàng tìm thấy những “mẻ” rượu dừa được bày bán dọc các tuyến đường. Đừng ngại ngần để thử vì hương vị thật rất khó quên

Huyền Thoại Chè Shan Tuyết

Đến với Suối Giàng, chắc chắn bạn sẽ được những người Mông kể cho nghe câu chuyện về đàn khỉ hái chè, rằng trước đây để khỏi leo lên cây chè hái, người dân nơi đây đã huấn luyện cho khỉ hái chè.

Những chồi chè trên chót vót cành cao, chênh vênh rìa núi mép vực đã được bầy khỉ hái và ném gọn gàng vào quẩy tấu (gùi), rồi dân cứ thế gùi về nhà sao chế. Câu chuyện ít nhiều mang màu sắc huyền thoại về đàn khỉ hái chè ấy nay không còn gặp, nhưng hình ảnh những gốc chè cổ thụ với thân nhánh vạm vỡ thì vẫn còn nhìn thấy.
Anh Giàng A Đằng đang sở hữu một vườn chè với những gốc chè cổ thụ trong khu vườn nằm ngay trên lối vào trụ sở UBND xã Suối Giàng. Gia đình anh cũng đang sở hữu một thương hiệu khá tiếng tăm của Suối Giàng là “Đằng Trà”. “Đằng Trà” cũng có nghĩa là trà của nhà ông Đằng, nhưng Trà cũng là tên người vợ của anh, tên “Chà” đọc chệch từ chữ “trà”. Khu vườn với sáu gốc chè “huyền thoại Suối Giàng” của anh Đằng nay được giao cho con gái và người con rể trông nom. Sừng sững trong sương giá, những gốc chè có tuổi gần 300 năm ấy vẫn cứ đâm chồi xanh mướt mát hết lứa này đến lứa khác. Bố của anh Giàng A Đằng là cụ Giàng A Lữ, năm nay 78 tuổi. Cụ Lữ cũng là người chủ tế trong buổi lễ cúng cây chè tổ vào mỗi dịp đầu năm sau Tết âm lịch. Cứ bình quân mỗi thế hệ là 20 năm, với tuổi đời hơn 300 năm, dễ thường những cây chè trong vườn anh Đằng đã đi qua hơn chục đời người và tiếp tục xanh cùng bao nhiêu đời cháu con trong tộc hệ.

Từ đời cụ kỵ xa xưa đến đời cụ Lữ, rồi đến anh Đằng, và nay là con và cháu của anh đã thấy những cây chè ấy mọc ngay bên hè nhà. Chỉ cần với tay qua ô cửa là có thể bứt được nắm chè thả vào nồi nước thơm ngan ngát mỗi bình minh trong căn nhà lợp bằng những mảnh gỗ pơ mu, bốn mùa mây phủ sương giăng. Từ trụ sở ủy ban xã, theo con đường bêtông đi một vòng quanh rừng chè, lúc chìm trong mù mây vây bọc dáng vẻ cổ thụ của thân chè, sự tinh khiết của núi rừng, hương thơm của hoa chè đang trổ ngan ngát, những đám mây luồn lách qua cung đường núi, lòng chợt thầm tiếc là Suối Giàng đã không trở thành một Sa Pa hay Tam Đảo, nhưng rồi chợt mừng là may mà Suối Giàng chưa bị cơn lốc du lịch kéo đến.

Nhưng không chỉ là những thân cây chè to, điều làm nên huyền thoại Suối Giàng chính là tên gọi “shan tuyết” riêng có. Shan, theo nhiều người chỉ là cách đọc của “Sơn” - tức là núi, nhưng chè shan tuyết không phải là chè trên núi tuyết. Thoạt đầu, nghe đến shan tuyết chúng tôi cũng ngỡ đấy là vùng chè trên những núi tuyết. Mà Việt Nam làm gì có núi tuyết? Hóa ra không phải thế. Những ngày theo dấu hành trình cây chè Việt ở vùng Tây Bắc, Việt Bắc, chúng tôi thật sự bất ngờ khi nhìn thấy những búp “tuyết trà” với một vẻ đẹp không thể hình dung nổi nếu không tận mắt nhìn thấy.

Bí mật của “tuyết” và chè “5 cực”

Chị Triệu Thị Oanh, chủ nhân của một cơ ngơi bán chè và đá cảnh lớn nhất Suối Giàng, đã mời chúng tôi ghé thăm và thưởng thức những ấm trà shan tuyết siêu hạng chỉ riêng nhà chị mới làm ra được. Và công lao sáng tạo chè “5 cực” chính là chồng chị, anh Lê Quang Tùng. Vốn từ một nhân viên bảo vệ của Nhà máy chè Vạn Hưng, nhưng tình yêu với hai đặc sản của Suối Giàng là chè và đá cảnh, sau mấy chục năm gắn bó nay anh Lê Quang Tùng xứng danh là một “đại gia” của Suối Giàng.

Đó là những búp chè thay vì nhặt ra “một tôm - hai lá” như bình thường, chị chỉ chọn lấy một tôm (búp non duy nhất trên chồi cây) mà cũng không phải là loại tôm bình thường, đó phải là những búp chè được ngậm sương, trên bề mặt búp phủ một lớp óng ánh bạc như tuyết. Gói chè chị mang ra là những búp khô có màu vàng kiêu sa được phủ một lớp bạc. Chỉ vào lớp bạc như nhũ trên tôm chè, chị Oanh giải thích: cái lớp nhũ bạc phủ trên tôm này mới đích thị là “tuyết chè”, chè ngon nhiều hay ít phụ thuộc vào lớp tuyết này. Để hái được chè với lớp tuyết đẹp như thế này cũng là một kỳ công, không phải cứ hái là được “tuyết chè”.

Thường cây chè vùng Suối Giàng mỗi năm thu hái được ba vụ. Vụ xuân vào tầm tháng 2-3 âm lịch, đây là vụ cho chè chất lượng tuyệt hảo nhất. Chịu đựng giá buốt suốt mùa đông núi cao, rồi ngậm từng hạt sương sớm lúc giao mùa, ủ từng khối mù mây mỗi sớm, cây chè shan tuyết Suối Giàng bừng thức khi mùa xuân tràn về. Những chồi non của chè lúc này hội tụ trong nó tất cả tinh túy của trời đất thiên nhiên, sương gió, mùa mưa của miền rẻo cao, mùa xuân đẹp viên mãn trong lớp tuyết bạc lấp lánh dát trên mỗi lá chè, mỗi búp chè.

Từ nguồn nguyên liệu thượng hạng này, vợ chồng chị Oanh đã thêm một lần nữa biến nó thành “siêu hạng” để cho ra đời loại chè shan tuyết “5 cực”.

Gọi là “5 cực” bởi đó là loại chè “cực khổ”, để hái được là một kỳ công, do chỉ có thể hái nó được một vụ trong năm và mỗi vụ chỉ được hái trong vài ngày viên mãn nhất của mùa thu hoạch thay vì hái 3-4 vụ như các loại chè khác. Người hái phải thức dậy lúc tinh mơ, trước khi ánh nắng rọi lên lá kích thích quá trình quang hợp làm tăng vị chát, mất mùi hương, giảm chất lượng chè. Đó là loại chè “cực ngon” bởi được tuyển lựa cực kỳ kỹ lưỡng, chỉ chọn búp non duy nhất (gọi là một tôm), búp phải mẩy, căng, đậm tuyết, và gọi là “cực sạch” bởi trên độ cao gần 1.400m, chè shan tuyết Suối Giàng không hề biết đến thế nào là thuốc trừ sâu hay phân hóa học. Vẻ đẹp lão trượng dạn dày sương gió của cây chè núi cao dị ứng với tất cả những can thiệp của con người, chỉ có đất trời sương giá “miền thượng giới” nuôi búp chè bừng thức.

Chưa hết, chè còn được gọi là cực đẹp chính là hệ quả của một quá trình từ thu hái, chọn lựa, sao chế, bởi để chế biến ra, vợ chồng chị Oanh có riêng một công thức sao chế loại chè này từ thứ than củi bằng gỗ sến. Chỉ với loại than này nhiệt lượng cung cấp cho quá trình sao chế đạt tới độ cần thiết để chè dậy hương. Nhìn búp chè dày tuyết được ủ gọn trong túi bóng được xử lý chân không đã mê chứ chưa nói đến chuyện pha uống. Và chính vì cực khổ, cực ngon, cực sạch, cực đẹp nên giá nó là cực đắt. Giá hiện nay của một cân chè “5 cực” bán ngay tại nhà chị Oanh là 2 triệu đồng. Mà cũng không phải khi nào cũng có để bán. Chị Oanh hài hước “Người ta gọi chè này là chè “5 cực” nhưng cũng có thể gọi nó là chè... “2 không”, vì người mua thường không được uống, và người uống lại thường không phải mất tiền mua”.
theo tu hao viet

Trà Blao bảo lộc lâm đồng

Bảo Lộc trù phú mà thơ mộng với những nương trà xanh bát ngát. Giữa những đồi trà, thỉnh thoảng bạn lại gặp những con suối chảy róc rách hoặc những thác nước tung bọt trắng xóa. Đó đây thấp thoáng những chiếc nón trắng của các cô gái Bảo Lộc xinh đẹp đang thoăn thoắt hái trà. Bạn sẽ hài lòng với khí hậu ôn hòa mát mẻ, với phong cảnh xinh đẹp của miền cao nguyên và với những ly trà thơm ngọt đậm đà chỉ có ở Bảo Lộc.

Khách Du lịch đi Đà Lạt đa số đều dừng chân ở Bảo Lộc – Một thị trấn êm đềm xinh đẹp cách Đà Lạt 120km. Và ai ai cũng mang về làm quà cho người thân đặc sản nổi tiếng của miền cao nguyên trù phú này – Trà Bảo Lộc. Đến Bảo Lộc, chỗ nào bạn cũng nhìn thấy trà: những vườn trà xanh bát ngát chạy tít tắp phía chân trời, trà bao bọc xung quanh nhà ở, trà ở phía trong sân, cho đến trà trong những bao mầu rực rỡ tiệm bán trà. Đến bất kỳ nhà ai ở Bảo Lộc, bạn cũng được người ta tiếp bằng thứ nước mang vị chan chát, man mát ngọt, đó là nước trà.

Ngược dòng lịch sử, từ vùng Cầu Đất trên độ cao 1.000m, theo quá trình hình thành và phát triển, theo nhu cầu khai thác đất đai và nhân công bản xứ của giới chủ Người Pháp mà cây trà lan dài xuống vùng Bảo Lộc, Di Linh theo lộ trình mới mở cửa của con đường từ Đà Lạt đi Sài Gòn vào thập niên 1930. Trà bắt đầu làm quen với đất B’Lao từ các đồn điền của người Pháp như đồn điền Felit B’Lao, B’Lao Sierre.. rồi dần dà là sự ra đời của các trang trại , các rẫy trà, vườn trà của các hộ gia đình. Từ đó ở vùng đất này đã xuất hiện một tầng lớp dân cư đông đảo chuyên sống bằng nghề canh tác hoặc chế biến trà hương. Một thế giới riêng của những người làm trà trên đất Bazan đã khai mở từ gần 80 năm trước, để hôm nay, trà là một trong ba cây công nghiệp quan trọng, phát triển mạnh nhất ở Bảo Lộc.
Và ngay từ những ngày đầu dựng nghiệp trà trên quê hương mình, những người làm trà đã chọn ngay địa danh B’Lao để đặt tên cho sản phẩm của họ. Nhờ tiếng tăm đã được khẳng định của thương hiệu “Trà B’Lao” mà các danh trà sau này đều dùng thêm chữ Trà B’Lao trên sản phẩm của mình. Đó có thể là Danh trà Quốc Thái, Đỗ Hữu, Trâm Anh, hay Rồng Vàng, Thiên Thành, Ngọc Trang… ”Nếu không ghi chữ B’Lao vào bao bì thì sản phẩm như mất đi phần bản sắc quan trọng nhất và rất khó tiêu thụ” – chủ một danh trà đã khẳng định như thế. Điều đó minh chứng thêm cho sự hoà quyện máu thịt giữa con người, xứ sở và sản phẩm ra đời trên miền đất cao nguyên. Đồng thời, một lý do quan trọng khác là trà B’Lao mang dấu ấn đặc trưng riêng trong phông vị đã từng chinh phục thói quen thưởng trà của người “Đàng trong” trong khi ở “Đàng ngoài” có trà Bắc Thái nức tiếng lâu đời. Nghề làm trà ở cao nguyên B’Lao đã thành nghiệp cha truyền con nối.

Những ông chủ của thế hệ đầu tiên của các danh trà nổi tiếng hầu như đã về với đất. Vẫn là những tên gọi cũ nhưng những người kế nghiệp đã sang đến đời thứ ba, thứ tư. Bảo Lộc chục năm lại đây xuất hiện nhiều doanh nghiệp – doanh nhân trong và ngoài nước tìm đến làm trà. Họ là những ông chủ Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc đến đầu tư, thuê đất đai, nhân công và trồng trà để làm giàu và họ đã giàu nhanh chóng. Gần 1.500 cơ sở sản xuất chế biến trà lớn nhỏ là con số thống kê ở “đô thị trà” Bảo Lộc. Trà B’Lao không chỉ là sản phẩm nội tiêu mà đã toả hương ở nhiều thị trường trên thế giới. Người dân nào ở Bảo Lộc cũng có vài sào trà để sinh sống chủ yếu . Đây là loại cây công nghiệp dễ trồng, dễ chăm sóc mà lại có sức sống vô cùng mãnh liệt. Cứ 10 ngày 1 lần, người ta hái và 10 người sau, những đọt non mơn mởn lại mọc lên. Trà Bảo Lộc được chuyển đi các tỉnh, có những vùng nước lợ mà người ta không thể uống nước được nếu không có trà. Bất kỳ một quán giải khát, quán ăn nào cũng không thể thiếu nước trà. Đây là thứ nước uống giải khát lành mạnh cho mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, ai cũng có thể thưởng thức hương vị thơm ngon, đậm đà của trà. Đêm mùa đông lạnh lẽo, một ly trà thơm bốc khói có thể sưởi ấm tay bạn trong chốc lát. Xuân về tết đến, nhà ai lại không có một vài tách trà thơm để tiếp khách đến nhà mừng xuân. Nếu như trà “Đàng ngoài” thường sao suốt và không ướp hương thì trà B’Lao truyền thống cũng có bí quyết riêng. Những đọt trà non hái mang về được luộc hoặc xào cho chín, sau đó đem vò xoăn lại, kế tiếp là sấy bên bếp than hồng đến khi nào trà khô và bốc mùi thơm ngát là được. Trà chế biến đến đây gọi là trà mộc. Một số người thích uống trà này hơn vì nó còn mang đầy đủ hương vị của trà. Muốn ngon hơn, người ta ướp thêm các vị thuốc khác như quế hương, cam thảo. Hương ướp trà B’Lao chủ yếu là hoa, rất thích hợp với khí hậu và thổ nhưỡng ở đây.

Hãy nghe tâm sự của một bạn trẻ: “Ở nhà, sáng nào tôi cũng pha cho Ba tôi một tách trà, nước phải xanh và trong vắt thì Ba tôi mới vừa lòng. Ngồi bên tách trà thơm bốc khói, Ba tôi sắp xếp công việc cho một ngày và buổi tối cũng vậy, sau bữa cơm chiều, ông có thể ngồi hàng giờ bên tách trà xanh thoảng hương nhài. Tôi cảm tưởng người quên hết tất cả những ưu phiền trong ngày qua làn khói bốc lên từ ly trà”. Người ta thường nói “Miếng trầu là đầu câu chuyện” nhưng ở Bảo Lộc người ta nói “Tách trà là đầu câu chuyên” đấy bạn ạ.

Đặc biệt hương vị chè thái nguyên

Thái Nguyên, mảnh đất giàu lịch sử và truyền thống cách mạng, không chỉ nổi tiếng với huyền thoại “hồ núi Cốc” mà còn được biết đến bởi hương vị chè xanh - sản vật nổi tiếng của vùng đất này. Chè Thái đã nổi tiếng từ lâu, nhưng có lẽ ngon nhất và tạo nên một hương vị đặc trưng nhất phải nói đến vùng chè nổi tiếng Tân Cương - nơi làm nên thương hiệu chè Thái.
Đi dọc thành phố 9km về phía tây, bạn sẽ đến với vùng chè Tân Cương. Đặt chân đến đây, bao cảm giác buồn phiền, lo âu như được xua tan bởi khung cảnh đồi nối tiếp đồi, chè nối tiếp chè. Những đồi chè với những búp xanh mơn mởn trải ngút tầm mắt hòa quyện với mùi hương chè xanh ngan ngát dễ chịu.

Và nếu đã một lần được ngồi thong thả nhấp từng ngụm chè ngay trên xứ sở chè Thái, bạn sẽ khó có thể nào quên cái mùi thơm tự nhiên, chát nhẹ, uống xong vẫn thấy ngọt hậu vị giác. Có lẽ do kết hợp giữa khí hậu, địa hình mà thiên nhiên đã ưu ái cho riêng vùng đất này nên từ hương vị đến màu sắc chè đều không lẫn vào đâu được. Hơn nữa còn do bí quyết chế biến chè của người dân nơi đây.

Theo những người dân trồng chè lâu năm, chè phải được thu hái từ sáng sớm tinh sương đến giữa ngọ. Người dân dùng sọt để đựng chè, cứ tầm nửa tiếng phải đưa những búp chè đã hái vào lán. Sau khi hái phải để trong bóng râm ba giờ để khi chế biến có được hương vị thơm ngon, tuyệt vời.

Khâu quan trọng nhất là sao chè. Các búp chè trải qua các quy trình liên tục, sao vò rồi lại sao. Qua bàn tay người sao cảm nhận được độ nóng của lửa để điều chỉnh. Sau đó sàng để phân loại chè: chè búp, chè cám…

Sao chè là công việc nhọc nhằn nhất, ngày trước người dân ở đây thường dùng bằng chảo gang. Bây giờ đã được thay thế bằng máy móc nhưng hương vị chè vẫn giữ nguyên. Chè Thái sau khi thành sản phẩm có cánh nhỏ, cong như móc câu và có một màu mốc đặc trưng.

Chè Thái bây giờ đã vươn xa hơn, đã trở thành mặt hàng xuất khẩu và đây cũng là một đặc sản để người con đất Thái gửi tặng bạn bè bốn phương. Một món quà mang hương vị đặc trưng, rất riêng của vùng trung du Bắc bộ.
Nguồn: vietcotra

Thảo dược trà đắng Cao Bằng

Chè đắng tiếng dân tộc gọi là Ché Khôm, là cây đặc sản quý hiếm có giá trị của tỉnh Cao Bằng. Đã hơn 2000 năm, tinh hoa của đất trời được kết tinh trong lá chè đắng Cao Bằng. Cây chè đắng sinh trưởng và phát triển tự nhiên trong những cánh rừng trên đất Cao Bằng. Cây trưởng thành có thể cao tới 30m, đường kính có cây tới trên 1m.
 Các nhà khoa học cho biết, trong lá chè đắng tươi có chứa 16 loại axít amin có tác dụng tăng cường quá trình trao đổi chất và có quan hệ chặt chẽ đến cơ cấu dinh dưỡng của cơ thể. Ngoài việc dùng uống như trà, thì chè đắng còn có giá trị về mặt dược liệu, dùng để chữa cảm nắng, tiêu viêm, giải độc, giải rượu, kích thích tiêu hóa, điều hòa huyết áp, kháng suy não…Từ xa xưa, người Trung Quốc đã dùng chè đắng để tiến vua.

Từ khi Công ty chè đắng Cao Bằng đi vào hoạt động và cung cấp sản phẩm chè đắng thì nhu cầu sử dụng chè đắng của nhân dân trong tỉnh và trong nước ngày càng tăng do người sử dụng đã thấy được giá trị của chè đắng. Chè đắng đã thực sự trở thành cây kinh tế mũi nhọn, một sản phẩm hàng hoá có giá trị kinh tế cao mang lại lợi ích không chỉ cho bà con nông dân các dân tộc Cao Bằng mà tạo ra một sản phẩm độc đáo có giá trị của Việt Nam . Do vậy, tỉnh Cao Bằng đã xây dựng định hướng nghiên cứu phát triển cây chè đắng Cao Bằng để đáp ứng nhu cầu thị trường.

Khách lên Cao Bằng hôm nay đã không thể quên mua vài hộp chè đắng về biếu người thân. Người dân Cao Bằng hôm nay đã có thể tự hào về những hộp chè màu đỏ tím đặc trưng của cây chè đắng Cao Bằng. Chè đắng đã và đang đi dần vào từng cửa hàng, ngõ chợ, đi vào tiềm thức của từng gia đình, từng người dân trong và ngoài nước. Với những ai đã từng thưởng thức ly chè đắng có lẽ sẽ không bao giờ quên được một hương vị đắng đậm ngọt độc đáo của loại chè đặc sản của quê hương Cao Bằng.
caobang.gov.vn

Trà sen tây hồ hà nội

Người Việt cùng với thú ngắm sen, thưởng thức thứ hương thơm dịu nhẹ, thanh khiết lại sáng tạo nên một thú thưởng trà cầu kỳ mà thanh nhã tuyệt diệu, đó là văn hóa Trà sen Tây Hồ. Hương sen dáng sen và cả những điều tinh túy, tao nhã nhất của đất trời như được lẫn trong từng cánh sen. Hồn sen được coi là tao nhã nhất luôn thuộc về vùng sen Tây Hồ với những hình ảnh đẹp dịu dàng tinh khiết rất riêng của Hà Nội.
Vào sáng sớm, khi những giọt sương còn long lanh trên lá, khi mặt trời còn chưa kịp chiếu rọi thứ ánh nắng gay gắt của mùa hè, đi qua đoạn đường vào phủ Tây Hồ, người ta dễ bị ngây ngất bởi hương sen tinh khiết cứ nhẹ nhàng vương vấn mãi. Hương sen tao nhã, màu sen hồng lẫn trong màu xanh của lá đọng sương đã tạo nên một bức tranh hoàn mỹ. Và lẫn trong bức tranh tinh khiết của đất trời đó, là hàng vạn cánh chè đang được từng cánh sen ấp ủ nâng niu suốt đêm trường. Để chờ người làm Trà sen tới trút lọc.

Trà sen Tây Hồ không phải tự nhiên mà vang danh, chưa nói đến sự cầu kì chế biến. Mà đầu tiên nhờ sự quý giá của sen Hồ Tây vốn rất riêng. Hoa sen nơi đây đẹp hơn mọi nơi khác, bởi sen Hồ Tây có nhiều cánh xếp vào nhau, nhụy vàng thẫm, cánh hồng phớt sắc, màu hồng rất lạ không nhạt không sẫm, hương thơm ngào ngạt. Không chỉ có hoa mà lá cũng mang rất đậm mùi hương, thứ hương ngái nồng của thứ đất bùn vốn trầm lắng cả ngàn năm, vị ngọt của nước Tây Hồ thiêng đất Thăng Long. Bông sen hồ Tây cũng to hơn các bông sen nơi khác, màu hoa hồng tươi, khi nở bung cánh lớn. Một năm trồng sen, thu hoạch vỏn vẹn chỉ trong vài tuần. Hoa sen, lá sen, thân sen, củ sen đều được bà con dùng cho mọi việc. Nhưng thứ tuyệt vời nhất mà sen Tây Hồ đem đến cho đời thì chỉ có một, là Trà sen.

Vào buổi sáng sớm hay chiều tối là thời điểm bỏ trà, hái sen. Người làm trà sen không đến trong ngày rộn rã ồn ào trên đầm, mà chọn thời điểm thanh nhẹ lúc sẩm tối và sáng tinh sương mới là lúc những người trồng hoa lặng lẽ chèo con thuyền nhỏ rẽ nước. Đem những búp chè đã sao kỹ nhè nhẹ tách cánh sen hồng thả từng nhúm từng nhúm cho sen ngậm, để suốt đêm ủ ấp những cánh chè ăn trọn tinh tuý trời đất. Rồi đến sáng tinh sương lại se sẽ hái những đóa sen ngậm chè vẫn đang chúm chím nở.

Trong những thứ trà uống, Trà sen quả là một tinh hoa của văn hoá Thăng Long và những câu chuyện nghề làm Trà sen tinh quý đến nhường nào của người Kẻ Chợ. Trà sen quý bởi được làm từ sen tươi, được ướp hương sống trong hoa sen. Chỉ có sau mùa sen người ta mới có thể được thưởng thức loại trà thơm đặc biệt này. Từ xa xưa, người dân các làng cổ gồm: Quảng Bá, Tây Hồ và Nghi Tàm đã lưu truyền môn nghệ thuật tinh tế này. Trà sen cốt để dâng tiến vua quan và những bậc quyền quý, nhưng nay đã được đem ra tiếp khách tri âm hoặc là dùng làm thứ quà biếu gói trọn hương vị đất Hà thành… Dù dưới hình thức, ý nghĩa gì thì nghệ thuật ướp trà sen đã trở thành niềm tự hào của người dân Quảng An đất Đại Việt ta.

Làm Trà sen ngoài cách ướp sống ngay trên đầm, những nghệ nhân làm trà còn hái những bông sen từ sớm, vừa chúm chím nở. Sau đó, nhanh chóng tách nhị hoa (hay gạo sen) khỏi bông rồi dùng gạo sen để ướp trà. Chè dùng để ướp phải là thứ trà hảo hạng, những người thợ sẽ ướp trà với những cánh hoa sen nhỏ trong hai ngày. Sau đó, trà được tách khỏi cánh sen sấy khô rồi mới bắt đầu đem đi ướp. Cứ mỗi 1 kg chè, người ta phải dùng hai lạng gạo sen cho một lần ướp. Ướp xong lại đem sấy khô, ướp tiếp lần hai. Vì hương sen chỉ thoang thoảng, nên để hương sen ngấm sâu vào búp trà, các công đoạn cứ lặp đi lặp lại đến bảy lần mới xong. Mỗi lạng gạo sen phải cần tới 80-100 bông hoa, vì thế, để ướp được 1 kg chè, phải cần đến khoảng 1.400 bông sen.

Vì thế, nếu được uống một hớp trà sen nghĩa là bạn đang uống cả một không gian đất trời là vậy. Hỏi có thú chơi nào thanh tao nhã khí được như vậy, có hương, có sắc có vị, có đầy đủ mọi rung cảm của thế gian trần tục, nhưng lại không gắt không tham không tục. Xưa nay có lẽ chỉ có cư dân Bách Việt mới đủ tự hào với thú chơi như vậy!
Nguồn: Songmoionline
 
Xem : Dịch vụ cứu dữ liệu ổ cứng - thay ổ cứng laptop - sạc laptop - bán sạc laptop - ban pin laptop - thay màn hình laptop - nâng cấp ram laptop